TỔNG QUAN:
Chương trình đào tạo Cử nhân Luật Chất lượng cao (High-quality Bachelor of Laws) là chương trình đào tạo trình độ đại học do Trường Đại học Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội tổ chức thực hiện, nhằm đào tạo nguồn nhân lực pháp luật chất lượng cao, có phẩm chất đạo đức nghề nghiệp, kiến thức pháp luật chuyên sâu, tư duy pháp lý hệ thống và năng lực thực hành nghề luật đáp ứng yêu cầu của môi trường pháp lý chuyên nghiệp hóa và quốc tế hóa. Sinh viên tốt nghiệp được cấp bằng Cử nhân Luật Chất lượng cao.
Chương trình có thời gian đào tạo 04 năm, được triển khai tập trung tại Trường Đại học Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội. Chỉ tiêu tuyển sinh được xác định hằng năm theo kế hoạch tuyển sinh chung của Đại học Quốc gia Hà Nội và thông báo chính thức của Nhà trường, bảo đảm phù hợp với yêu cầu đào tạo chất lượng cao và nhu cầu nguồn nhân lực pháp luật trong bối cảnh hội nhập.
Về định hướng đào tạo, chương trình được xây dựng theo hướng nâng cao chiều sâu kiến thức pháp luật, tăng cường đào tạo bằng tiếng Anh và phát triển năng lực tư duy pháp lý trong bối cảnh toàn cầu hóa. Một số học phần chuyên ngành được giảng dạy bằng tiếng Anh; sinh viên được tiếp cận tài liệu học tập, nghiên cứu và thảo luận học thuật theo chuẩn quốc tế. Nội dung chương trình chú trọng hình thành tư duy pháp lý hệ thống, tư duy phản biện và năng lực phân tích, giải quyết các vấn đề pháp lý phức tạp trong thực tiễn.
Bên cạnh đó, chương trình đặc biệt chú trọng phát triển năng lực thực hành nghề nghiệp ở trình độ cao, tăng cường sử dụng tiếng Anh trong hoạt động giảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa học pháp lý. Sinh viên được rèn luyện kỹ năng tư vấn, soạn thảo văn bản pháp lý, tham gia tố tụng; đồng thời phát triển kỹ năng giao tiếp pháp lý, viết học thuật và thuyết trình bằng tiếng Anh, qua đó nâng cao khả năng làm việc trong môi trường pháp lý đa văn hóa và hội nhập quốc tế.
CHUẨN ĐẦU RA:
Sinh viên tốt nghiệp Chương trình đào tạo Cử nhân Luật Chất lượng cao đạt được các chuẩn đầu ra chủ yếu sau:
Về kiến thức:
Vận dụng kiến thức pháp luật nền tảng và chuyên sâu để phân tích và giải quyết các vấn đề pháp lý trong thực tiễn; có khả năng tiếp tục phát triển năng lực chuyên môn để xử lý các vấn đề pháp lý phức tạp sau 1–3 năm hành nghề; có khả năng tiếp cận, phân tích và đánh giá các vấn đề pháp lý trong bối cảnh hội nhập và pháp luật quốc tế bằng tiếng Anh.
Về kỹ năng:
Thành thạo các kỹ năng tư vấn pháp luật, soạn thảo hợp đồng, tham gia tố tụng, bào chữa và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của khách hàng; có kỹ năng giao tiếp, thuyết trình, làm việc nhóm và lãnh đạo nhóm; sử dụng hiệu quả công nghệ thông tin, kỹ năng tra cứu – phân tích dữ liệu pháp lý và thành thạo ít nhất một ngoại ngữ, đặc biệt là tiếng Anh, trong học tập, nghiên cứu và hoạt động nghề nghiệp.
Về mức độ tự chủ và trách nhiệm:
Có khả năng làm việc độc lập, chủ động thích nghi với thay đổi và phát triển nghề nghiệp liên tục; từng bước đảm nhiệm vai trò lãnh đạo nhóm trong các cơ quan, tổ chức hành nghề luật; hành xử đúng chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp, đề cao tinh thần thượng tôn pháp luật, bảo vệ công lý và lợi ích hợp pháp của cộng đồng, xã hội và Nhà nước; có ý thức trách nhiệm công dân và năng lực học tập suốt đời.
KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO
Chương trình đào tạo Cử nhân Luật Chất lượng cao được xây dựng theo chuẩn trình độ đào tạo đại học, đáp ứng yêu cầu của Khung trình độ quốc gia Việt Nam và định hướng kiểm định chất lượng giáo dục đại học; đồng thời tiệm cận các chuẩn mực đào tạo luật tiên tiến trong khu vực và quốc tế, bảo đảm tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và khả năng so sánh.
HỢP TÁC VÀ CƠ HỘI NGHỀ NGHIỆP
Chương trình đào tạo tăng cường hợp tác với các cơ quan nhà nước, tổ chức hành nghề luật, doanh nghiệp và đối tác quốc tế nhằm:
- Gắn đào tạo với thực tiễn hành nghề và nhu cầu của thị trường lao động pháp lý chất lượng cao;
- Tạo điều kiện cho sinh viên tham gia thực tập, kiến tập, trao đổi học thuật, học phần giảng dạy bằng tiếng Anh và các hoạt động trải nghiệm nghề nghiệp trong môi trường quốc tế;
- Mở rộng cơ hội nghề nghiệp tại các tổ chức hành nghề luật, doanh nghiệp, cơ quan nhà nước, tổ chức quốc tế và các cơ sở nghiên cứu – đào tạo trong và ngoài nước.

